1. Công nghệ vật liệu y sinh - Sự phát triển tất yêu của y học hiện đại
Định nghĩa về vật liệu y sinh được đưa ra cách đây hơn 30 năm. Tuy vậy, sản phẩm của công nghệ vật liệu y sinh đã được sử dụng từ trước công nguyên, đó là răng giả, chỉ khâu, vật cố định xương… Cho đến nay, công nghệ vật liệu y sinh đã phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới với tốc độ rất nhanh và phổ ứng dụng ngày càng rộng. Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ như thế là do nhu cầu cấy ghép vật liệu và lợi nhuận thu được từ công nghệ này rất lớn.
Hình 1 và hình 2 thể hiện tốc độ tăng trưởng của thị thường vật liệu y sinh trên toàn thế giới và tốc độ tăng trưởng kép của thị trường vật liệu y sinh theo từng khu vực. Tuy vậy, đến thời điểm hiện tại, ngành công nghệ này vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của ngành y trong việc cung cấp vật liệu cấy ghép. Bởi vì y học hiện đại không chỉ tập trung vào việc chữa các khuyết hổng mà còn quan tâm rất nhiều đến khả năng “tái tạo” được khuyết hổng đó.
Hình 1. Thị trường vật liệu sinh học trên toàn thế giới

Hình 2. CAGR vật liệu sinh học theo từng khu vực
2. Y học việt Nam - Sự cần thiết tiếp cận và phát triển công nghệ vật liệu y sinh.
Có 2 lý do chính để Việt Nam tiếp cận và phát triển công nghệ vật liệu y sinh:
- Hội nhập:
Ngày 18/5/2011, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 735/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đến năm 2020. Mục tiêu của đề án nhằm đưa Việt Nam trở thành nước mạnh trong một số lĩnh vực khoa học và công nghệ vào năm 2020 phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách về trình độ khoa học và công nghệ của nước ta với khu vực và thế giới.
Cụ thể đến năm 2015: Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ Việt Nam có đủ năng lực trực tiếp tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của khu vực và thế giới trong một số lĩnh vực ưu tiên trọng điểm; đến năm 2020, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp Việt Nam trong một số lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm có đủ năng lực hợp tác với các đối tác nước ngoài, tiếp thu, làm chủ, đổi mới và sáng tạo công nghệ. Một số kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm của Việt Nam xác lập được vị trí trong thị trường khu vực và thế giới.
Điều đó cho thấy, nhà nước rất quan tâm đến việc hội nhập quốc tế của khoa học công nghệ nước nhà. Ngành công nghệ vật liệu y sinh đã và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Thế nhưng ở Việt Nam, ngành này còn khá mới mẻ, chỉ có một số ít phòng thí nghiệm có quan tâm đến vấn đề này. Do đó, việc hội nhập quốc tế về ngành vật liệu y
sinh của nước ta là điều thiết yếu.
- Nhu cầu xã hội:
Nhu cầu sử dụng vật liệu y sinh trong cấy ghép ở Việt Nam là rất lớn. Đến nay, chưa có một thống kê nào về tình hình sử dụng cũng như cung cấp vật liệu y sinh ở nước ta. Tuy vậy, chỉ tính riêng trong lĩnh vực Răng Hàm Mặt và Sọ não, nhu cầu sử dụng mô ghép xương và các vật liệu thay thế cũng rất lớn. Từ năm 1994 tại hai khoa Cột Sống và Bệnh học chỉnh hình TP.HCM, trong 1.343 trường hợp nhập viện, số có nhu cầu ghép xương là 215, số đã ghép trong thực tế là 110. Như vậy ước tính trên cả nước nhu cầu cần ghép xương mỗi năm ít nhất sẽ là 2.150 trường hợp.

Hiện nay, mới chỉ có một số công trình nghiên cứu về vật liệu y sinh của một số đơn vị như: Viện Bỏng Quốc gia, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Trường Đại học Bách Khoa, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM, Trung tâm Công nghệ Vật liệu với sản phẩm da nhân tạo, xương nhân tạo, gốm y sinh, vật liệu Hydroxyapatite, nẹp xương, tấm vá khuyết hổng sọ… Tuy nhiên, phần lớn các công trình đều dừng ở mức nghiên cứu, chỉ một số sản phẩm được thử nghiệm lâm sàng. Hầu như chưa có sản phẩm nào được sản xuất công nghiệp để đưa ra thị trường.
3. Những kết quả đã đạt được và định hướng tương lai ngành vật liệu y sinh Việt Nam.
3.1. Tình hình hoạt động nghiên cứu và đào tạo 2010-2013: hướng nghiên cứu, đội ngũ cán bộ khoa học và cơ sở vật chất, kết quả nghiên cứu và đào tạo, tình hình hợp tác trong nước và quốc tế.
Nhóm nghiên cứu về vật liệu y sinh thuộc trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHCM đã được hình thành từ 7 năm qua. Trong thời gian 2010 – 1013, nhóm nghiên cứu đã thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, tham gia đào tạo đại học và sau đại học :
- Đội ngũ cán bộ : TS (1), ThS (2), CN (3)
- Kết quả nghiên cứu : Đề tài cấp nhà nước (1), Đề tài cấp ĐHQG trọng điểm (2),
Đề tài cấp ĐHQG (1), Đề tài cấp Sở KHCN (1), Đề tài cấp trường ĐH KHTN (1)
- Công bố khoa học : bài báo quốc tế (3), bài báo trong nước (7), số bài báo trong hội nghị khoa học (10), sách tham khảo trong nước (1), sách tham khảo quốc tế (2)
- Kết quả đào tạo : ThS (4), CN (10)
- Tình hình hợp tác trong nước : ĐH Y dược TP.HCM, Trường ĐH Y khoa Phạm
Ngọc Thạch, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Răng hàm mặt, Bệnh viện 175, Trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ, ĐH Sư phạm TP.HCM, một số bệnh viện và phòng khám tư nhân.
- Tình hình hợp tác quốc tế : Đại học Tsukuba, Nhật Bản; Đại học Osaka, Nhật Bản; Đại học Y Ehime, Nhật Bản; Viện Kỹ thuật Tokyo, Nhật Bản; Đại học Sydney, Úc; Đại học Chulalongkorn, Thái Lan; Đại học Michigan, Mỹ.
- Cơ sở vật chất : hiện tại, nhóm nghiên cứu chưa được trang bị cơ sở vật chất cho nghiên cứu và đào tạo mà hoạt động chủ yếu dựa trên các trang thiết bị của PTN. Bộ môn Sinh lý học và CNSH động vật, khoa Sinh học và PTN. Nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc, Trường ĐH KHTN
3.2. Đề xuất định hướng nghiên cứu phát triển, các đề tài/dự án nghiên cứu ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo.
- Tạo các khung nâng đỡ cho tế bào nhằm tạo cấu trúc mô in vitro: mô da, mô răng, mô xương, mô mỡ, mô giác mạc…
- Vật liệu sinh học trong nuôi cấy tế bào ứng dụng chẩn đoán và điều trị : màng ối, giá thể ngà, màng cellulose vi khuẩn, gel fibrin
- Vật liệu sinh học dựa trên tế bào: Khung ngoại bào, chất làm đầy
- Lưu trữ và cung cấp mô ghép: tự thân, đồng loại
- Vật liệu nano phân phối thuốc : từ tơ tằm hydrogel…
3.3. Đề xuất một số giải pháp
Để đẩy mạnh việc phát triển ngành vật liệu y sinh tại Việt Nam, chúng tôi nghĩ cần có sự tham gia, hỗ trợ của các cấp:
- Về phía nhà nước: cần có chính sách cụ thể về đầu tư nghiên cứu, triển khai và sản xuất các sản phẩm vật liệu y sinh nội địa nhằm đảm bảo nhu cầu trong nước, có cơ chế phù hợp nhằm khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu tập trung vào ngành công nghệ này.
- Về phía người nghiên cứu: phải tập trung nghiên cứu chế tạo các sản phẩm ngành y tế cần bằng cách tiếp cận với các công nghệ mới hiện nay trên thế giới thông qua việc nắm bắt, phát triển và ứng dụng các công nghệ, kỹ thuật này; phấn đấu đạt chất lượng tương đương sản phẩm nhập ngoại; ngày càng hoàn thiện chất lượng sản phẩm; chuyển giao các kết quả nghiên cứu cho các doanh nghiêp…
- Về phía doanh nghiệp: kết hợp với nhà nước trong việc đầu tư cho các nghiên cứu về vật liệu y sinh; tìm hiểu nhu cầu thực tiễn; tiếp nhận chuyển giao kết quả nghiên cứu từ các nhà nghiên cứu.
Chúng tôi tin rằng cùng với sự quan tâm của các cấp, trong thời gian không xa, ngành công nghệ vật liệu y sinh của Việt Nam sẽ phát triển với mục tiêu ít nhất là đáp ứng được nhu cầu vật liệu cấy ghép cho người dân Việt Nam.
TS. Trần Lê Bảo Hà (Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia Tp. HCM)